trang chủ  *  Tin tức  *  Liên hệ
   
     
   Trang chủ      
   Giới thiệu chung      
   Tin tức      
   Tư liệu KHCN      
   Sản phẩm      
   Công trình - dự án      
   Liên hệ      
Thống kê
Số lượt truy cập   488821
Số người online   2
 
Thăm dò ý kiến
 
Bạn biết đến website của chúng tôi qua phương tiện nào?
Qua Internet
Qua báo giấy
Qua truyền hình
Qua bạn bè, người thân
Phương tiện khác

Thông tin thời tiết
 
Tỷ giá hối đoái
 
Thị trường vàng
 
 
Tin tức/Các công trình tiêu biểu
TỔNG KẾT 10 NĂM - THUYẾT VÀ CÔNG NGHỆ BỨC XẠ TỪ THỨ CẤP (Tiếp theo)
PHẦN III
NHỮNG KẾT QUẢ ĐIỂN HÌNH ỨNG DỤNG TRONG THỰC TẾ

3.1 Những kết quả ứng dụng vào lĩnh vực địa chất
Một số kết quả điển hình ứng dụng công nghệ BXTTC  (phương pháp ĐBX) trong ngành địa chất thủy văn (ĐCTV): Tìm kiếm và thăm dò nước ngầm ở những nơi có điều kiện địa chất - ĐCTV phức tạp, khan hiếm nguồn nước, nước ngầm nghèo kiệt.

* Tìm nguồn nước ngầm trong khối đá phun trào riôlit ở Nam Đèo Ngang, nơi mà trước đó các nhà địa chất, ĐCTV và địa vật lý đã xác định là rất nghèo nước ngầm, để cấp nước cho Khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình thay cho phương án dùng nguồn nước mặt (sông Thai) xa gần 20km, tốn kém 147 tỉ đồng đã được phê duyệt.

Thành công tìm được nước ngầm ở công trình Khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình chính là thành công của việc sử dụng công nghệ BXTTC để phát hiện và định vị được các đứt gẫy địa chất kiến tạo chứa nước ngầm ở Nam Đèo Ngang - vùng có cấu tạo địa chất là đá phun trào riôlit - một loại đá theo lý thuyết, thì khả năng chứa nước ngầm là rất ít và cũng vì lẽ đó, mà các nhà địa chất, ĐCTV và địa vật lý trước đây đã kết luận là vùng này rất nghèo nước ngầm do đã không tìm và xác định được các đới phá hủy của các đứt gẫy địa chất kiến tạo. Thành công của TS. Vũ Văn Bằng sử dụng công nghệ BXTTC ở trường hợp này không những chỉ có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội cực kỳ to lớn đối với tỉnh Quảng Bình, mà còn thiết thực đem lại nguồn nước sạch phục vụ kịp thời cho sự nghiệp phát triển Khu kinh tế Hòn La, đặc biệt về kinh tế đã góp phần giảm chi phí hàng chục tỉ đồng cho Công ty CP Doanh nghiệp trẻ Quảng Bình - Chủ đầu tư công trình cấp nước, như thư cảm ơn của Chủ đầu tư gửi cho TS. Vũ Văn Bằng - người đã đưa công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX) tìm được nguồn nước ngầm tại chỗ để cấp nước cho Khu kinh tế Hòn La (xem thư cảm ơn kèm theo báo cáo này –phụ lục 2).
 Ngoài ra, thành công như đã nêu trên còn có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học. Bởi lẽ, trước đó các nhà khoa học về địa chất, ĐCTV và địa vất lý đã kết luận là khu Nam Đèo Ngang rất nghèo nước ngầm, do điều kiện địa chất – ĐCTV ở đây vô cùng phức tạp, khó có sự tồn tại của nước ngầm.  Thế nhưng, với công nghệ BXTTC đã có thể bỏ qua tất cả các hạng mục khảo sát địa chất - ĐCTV truyền thống như: giải đoán ảnh viễn thám, đo vẽ địa chất –ĐCTV, thăm dò địa vật lý, cũng như các giai đoạn khảo sát: thăm dò sơ bộ và thăm dò tỷ mỷ…, mà chỉ sử dụng duy nhất một phương pháp – phương pháp ĐBX và một giai đoạn duy nhất – giai đoạn phát hiện những vị trí triển vọng có nước ngầm để khoan thăm dò – khai thác và các giếng khoan thăm dò đã được chuyển thành giếng khoan khai thác đạt tỷ lệ gần như tuyệt đối (100                 
Kết quả của công trình này là, tất cả các giếng khoan thăm dò – khai thác đều đạt lưu lượng trên 10m3/h, trong số đó có 4 giếng khoan đạt lưu lượng khai thác trên 35m3/h, đặc biệt có 1 giếng khoan cho lưu lượng trên 50m3/h và tổng lưu lượng toàn công trình  đạt 300m3/h (7.205m3/ngày).
Đây là thành công chưa từng có trong lịch sử ngành ĐCTV Việt Nam trong lĩnh vực tìm kiếm và thăm dò nước ngầm trong đá phun trào riôlit với nhiều giếng khoan đạt lưu lượng (công suất) từ 35m3/h đến 50m3/h phục vụ cho sự nghiệp cung cấp nước cho các khu công nghiệp và đô thị ở Việt Nam với thời gian khảo sát nhanh và hiệu quả thăm dò cao.
Tính chất ưu việt vượt trội của công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX) trong công tác tìm kiếm và thăm dò nguồn nước ngầm, chính là đi tìm những nơi có trường BXTTC được sản sinh ra từ dòng ngầm. Có nghĩa là, có trường BXTTC là có dòng ngầm. Nhờ tín hiệu này, mà phương pháp ĐBX đạt được độ chính xác gần như tuyệt đối và đưa lại hiệu quả rất cao với thời gian khảo sát rất nhanh.
Bởi vậy, đối với những vùng có điều kiện địa hình và địa chất –ĐCTVcàng phức tạp, nguồn nước ngầm nghèo kiệt, trong khi các phương pháp thăm dò tìm kiếm truyền thống không phát huy hiệu quả, thì ngược lại việc ứng dụng công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX) ở những vùng này lại cho kết quả cao, thậm chí rất cao ngoài sự mong đợi của nhiều người, có thể lấy tỉnh Quảng Bình làm ví dụ.
Tỉnh Quảng Bình là dải đất hẹp nhất nước, có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Biển và núi chạy song song kẹp 2 bên và ép sát vào dải đồng bằng ven biển đã hẹp lại hẹp hơn, nên địa hình và địa chất càng phức tạp. Do đó nguồn tài nguyên nước ngầm rất hạn chế, nên tình trạng khan hiếm nước trải trên diện rộng, đặc biệt ở các khu đô thị và khu kinh tế, trong đó có Khu kinh tế Hòn La.
Bằng việc ứng dụng công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX) vào khảo sát tìm kiếm nước ngầm, không chỉ thành công ở Khu kinh tế Hòn La – Nam Đèo Ngang – nơi mà các nhà địa chất, ĐCTV, địa vật lý trước đó đã kết luận là rất nghèo nước ngầm, buộc Ban Quản lý Khu kinh tế Hòn La phải phê duyệt Dự án xây dựng Nhà máy nước sông Thai tốn 147 tỷ đồng, mà còn thành công ở nhiều công trình khác như: Nhà máy xi măng ở xã Văn Hóa huyện Quảng Trạch, Nhà máy Bao bì sông Gianh, Nhà máy Bia Đồng Hới, Xí nghiệp Vận Tải Xi măng sông Gianh, Xí nghiệp chế biến cao su Đồng Hới, Nông trường Việt Trung Đồng Hới, Khu Resort Lệ Thủy và các xã từ chỗ không tìm được nước ngầm đến tìm được nước ngầm như : xã Vạn Ninh huyện Quảng Ninh, các xã Hải Trạch, Thanh Trạch và Bắc Trạch huyện Bố Trạch; xã Quảng Phú và  Quảng Đông, huyện Quảng Trạch…(xem thư cảm ơn số 11A/2010/VCMS/GĐ-CV ngày 22/10/2010 của Ban QLDA Xi măng Quảng Phúc

* Tìm nguồn nước ngầm ở vùng khan hiếm nguồn nước, nước ngầm nghèo kiệt  – xã Suối Rao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu.
Đây là nội dung của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh do Sở Khoa học & Công nghệ Bà Rịa - Vũng Tầu quản lý và TS. Vũ Văn Bằng làm chủ nhiệm được thực hiện trong năm 2009. GĐ. Sở Khoa học và Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tầu, Chủ tịch UBND huyện Châu Đức, Chủ tịch UBND và Chủ tịch Hội nông dân xã Suối Rao cùng các cán bộ chuyên ngành hữu quan của Sở, huyện, xã Suối Rao có mặt đầy đủ tại hiện trường để lập biên bản nghiệm thu giếng khoan và bàn giao giếng khoan cho gia đình sở tại quản lý và khai thác sử dụng.
Phát huy kết quả đạt được từ công nghệ BXTTC của đề tài này, cuối năm 2010 Sở Khoa học và Công nghệ Bà Rịa –Vũng Tầu lại cho thực hiện tiếp đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề nước ngầm ở xã Suối Rao và vẫn do TS. Vũ Văn Bằng làm Chủ nhiệm.  Lần này đề tài mang tên: “Ứng dụng phương pháp địa bức xạ đánh giá trữ lượng tiềm năng nước ngầm và lập sơ đồ vị trí có triển vọng khai thác nước ngầm cho toàn xã Suối Rao, huyện Châu Đức”.
Kết quả bằng phương pháp ĐBX không những lập được sơ đồ vị trí có triển vọng nước ngầm cho toàn xã Suối Rao gồm 56 vị trí với tổng trữ lượng tiềm năng nước ngầm dự báo đạt khoảng 904m3/h (21.696m3/ngày) giúp cho người dân trong xã không phải “khoan mò” như trước như mục tiêu đề tài quy định, mà còn xác định được sự tồn tại của một số đứt gẫy địa chất kiến tạo (ĐGĐCKT) có triển vọng phong phú nước ngầm để làm cơ sở cho xã lập quy hoạch khoan khai thác và lập dự án xây dựng Trạm cấp nước sạch tập trung cho toàn xã ổn định bền vững.
Với những ví dụ nêu trên cho thấy, việc tìm thấy nguồn nước ngầm ở nơi nguồn nước mặt khan hiếm và nước ngầm nghèo kiệt, không chỉ phát huy ở những vùng phát triển các đá macma như phun trào riôlit ở Nam Đèo Ngang, tỉnh Quảng Bình; mà còn rất hiệu quả ở những vùng phát triển các đá trầm tích gồm sét kết và bột kết như ở xã Suối Rao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu đã nói lên tính ưu việt của công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX). Chưa dừng lại ở đó, công nghệ này còn tiếp tục thành công rực rỡ ở nhiều nơi khác như: Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cho Xí nghiệp sản xuất dầu Diêzen và xăng từ cao su phế liệu của Công ty Duy Chiến – Công ty sản xuất kinh doanh tổng hợp của người tàn tật
 
* Tìm nguồn nước ngầm cho vùng hải đảo – Đảo Côn Sơn, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tầu.
Đây cũng là nội dung của đề tài KHCN cấp Tỉnh do Sở Khoa học & Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tầu quản lý và TS. Vũ Văn Bằng làm chủ nhiệm được thực hiện và nghiệm thu trong năm 2011 với nội dung chủ yếu là ứng dụng phương pháp ĐBX (công nghệ BXTTC) để tìm nguồn nước ngầm trong những tầng đá gốc phân bố rộng ở đảo Côn Sơn nói riêng và toàn huyện Côn Đảo nói chung để dáp ứng yêu cầu cấp nước của Huyện đảo. Tuy nhiên, viêc tìm nguồn nước ngầm ở đây không hề dễ dàng, bởi lẽ vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học và chuyên gia địa chất và ĐCTV quan tâm đầu tư nghiên cứu điều tra và khảo sát thăm dò từ gần 20 năm qua, Bởi vậy, trước tình hình đó Sở Khoa học và Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tầu đã cho thực hiện đề tài nghiên cứu KHCN cấp Tỉnh: “Sử dụng phương pháp địa bức xạ đánh giá tiềm năng nước ngầm của huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu”, trong đó chủ yếu tập trung vào các tầng đá gốc ở 3 khu vực: Sân bay Cổ Ống, Thị trấn Côn Sơn và Cảng Bến Đầm của đảo Côn Sơn rộng gần 50km2.
Kết quả, chỉ sau 01 tuần lễ khảo sát đo đạc tại thực địa và cũng chỉ sử dụng duy nhất phương pháp ĐBX (công nghệ BXTTC) đã phát hiện và xác định được 19 vị trí có triển vọng phong phú nước ngầm với lưu lượng dự kiến đạt khoảng 4.300m3/ngày và tất cả đều nằm trong hệ thống đứt gẫy địa chất kiến tạo phát triển trong những tầng đá gốc của đảo Côn Sơn (xem bản đồ trang bên), gồm:
- Khu vực Thị trấn có 11 vị trí với lượng nước dự kiến đạt khoảng 3000m3/ngày,
- Khu vực Cỏ Ống (sân bay) có 5 vị trí với lượng nước dự kiến đạt trên 700m3/ngày, - Khu vực Bến Đầm (khu cảng) có 3 vị trí với lượng nước dự kiến trên 500m3/ngày
Để kiểm tra và chứng minh kết quả của phương pháp ĐBX là tin cậy, đã thi công 1 hố khoan thăm dò kiểm chứng sâu 75,7m sát chân núi, cạnh đường Phan Chu Trinh. Lưu lượng của hố khoan đạt 7m3/h (168m3/ngày). Kết quả này trùng với kết quả xác định bằng phương pháp ĐBX.
Ngày 19/7/2011 nước ngầm từ sâu trong đá gốc đã được bơm lên mặt đất từ giếng khoan kiểm chứng.  TS. Nguyễn Văn Túc, Viện trưởng Viện Công nghệ Nước và Môi trường thuộc Liên hiệp các Hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam, chuyên gia đầu ngành về Đia chất thủy văn đã trực tiếp xem xét tại hiện trường và tham gia buổi nghiệm thu với Huyện đảo ngày 22/7/2011.
Trong buổi nghiệm thu đề tài ngày 29/9/2011 tại Vũng Tầu, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - TS. Trương Thành Công – GĐ. Sở Khoa học và Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tầu kết luận: “Đề tài đã làm được một vấn đề hết sức có ý nghĩa và thiết thực, đó là tìm ra nước ngầm trong đá gốc cho Côn Đảo, mà bấy lâu các đơn vị chuyên ngành địa chất thủy văn không làm được, mở ra hướng tích cực chủ động giải quyết tình trạng đang suy thoái nguồn nước tầng nông đã và đang khai thác giúp Huyện đảo có quy hoạch hợp lý, định hướng cụ thể cho công tác thăm dò, khai thác cấp nước sau này”.
Việc chỉ sử dụng duy nhất phương pháp ĐBX tìm được nguồn nước ngầm chứa trong những tầng đá gốc ở đảo Côn Sơn, một lần nữa nói lên tính ưu việt vượt trội của phương pháp ĐBX trong công tác điều tra và khảo sát tìm kiếm nguồn nước ngầm của ngành ĐCTV.

* Ứng dụng công nghệ BXTTC xác định ranh giới mặn-nhạt để khoanh vùng xâm nhập mặn (nước biển) phục vụ Dự án khai thác nước ngầm xây dựng Trạm cấp nước sạch tập trung nông thôn xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bằng công nghệ BXTTC có thể xác định và phân vùng được
độ mặn nhạt của nước ngầm, cũng giống như phương pháp thăm dò địa vật lý điện truyền thống, nhưng độ chính xác cao hơn, thời gian thực hiện nhanh hơn và kinh phí ít hơn nhiều lần.

3.2 Một số kết quả điển hình ứng dụng công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX) trong ngành địa chất công trình (ĐCCT): Phát hiện và xác định các hang đông cactơ phát triển trong các thành tạo cacbonat và các đứt gãy địa chất kiến tạo (ĐGĐCKT) phục vụ việc xây dựng các hồ chứa nước (hồ treo, hồ thủy điện) và thoát lũ (qua cửa các hang động cactơ ngầm và các sông ngầm phát triển trong các khối núi đá vôi chắn ngang các dòng sông).

* Ứng dụng phương pháp ĐBX (công nghệ BXTTC) để phát hiện và xác định các hang động cactơ treo và các hang động cactơ ngầm cùng các đứt gẫy địa chất kiến tạo ở những nơi địa hình thấp trũng để xây dựng “hồ treo” tích chứa nước mưa tập trung giải quyết nhu cầu nước sinh hoạt và ăn uống cho người dân trên vùng cao nguyên đá phía Bắc tỉnh Hà Giang.
Với điều kiện địa hình và địa chất của vùng Cao nguyên đá Hà Giang quá phức tạp đã làm cho điều kiện ĐCCT - ĐCTV càng thêm phức tạp. Để giải quyết được hai điều kiện (nhiệm vụ) trên, thì các phương pháp kỹ thuật truyền thống của chuyên ngành thăm dò địa vật lý đã được áp dụng và thực hiện, nhưng không đưa lại hiệu quả do không phù hợp với điều kiện địa hình và địa chất vùng cao nguyên đá nói chung và những nơi dự kiến sẽ xây dựng “hồ treo” nói riêng. Đứng trước tình hình đó, phương pháp ĐBX (công nghệ BXTTC) đã được đưa vào ứng dụng và mặc dù mới ở giai đoạn sơ khai, nhưng đã đưa lại nhiều hiệu quả khoa học và công nghệ rõ rệt để hình thành “công nghệ hồ treo”.
Chính vì vậy mà hai hồ treo đầu tiên đã được xây dựng thành công trên vùng Cao nguyên đá phía Bắc tỉnh Hà Giang. Đó là hồ Sà Phìn ở huyện Đồng Văn và hồ Tả Lủng ở huyện Mèo Vạc – mở đầu cho “Chương trình hồ treo” của tỉnh Hà Giang và cho đến nay đã xây dựng được gần 70 hồ treo nữa trên địa phận bốn huyện vùng cao của vùng Cao nguyên đá Hà Giang
Có thể nói, công nghệ BXTTC được hoàn chỉnh cả về lý thuyết lẫn công nghệ và phương pháp đo, kể cả tay nghề của người sử dụng thiết bị đo được như ngày nay là nhờ ở những khích lệ thành công ở buổi ban đầu này và tiếp đó được ứng dụng thành công vào trong thực tiễn nghiên cứu khoa học và sản xuất suốt từ Bắc vào Nam, kể cả các vùng ở Tây Bắc và Tây Nguyên cho những công trình cụ thể mà các phương pháp kỹ thuật truyền thống không thể thực hiện được hoặc được thực hiện nhưng không đem lại hiệu quả. Điều đó nói lên tính ưu việt của công nghệ BXTTC - công nghệ của thế kỉ XXI.
                             
* Phát hiện và xác định sự tồn tại các hang động cactơ ngầm và các đứt gãy địa chất kiến tạo trong thung lũng đá vôi hẹp, thành dốc đứng để thiết kế xây dựng hồ chứa nước của công trình thủy điện Nậm Pàn 5, tỉnh Sơn La.

Phương pháp thăm dò địa vật lý điện truyển thống đã được sử dụng và phương pháp kỹ thuật được chọn để phù hợp với vùng đá vôi có hang động cactơ ngầm phát triển là phương pháp đo sâu lưỡng cực 2D (phương pháp ảnh điện 2D) đã được thực hiện, nhưng tất cả đã không phát hiện và xác định được một đứt gãy địa chất hay một hang động cactơ ngầm nào do địa hình thung lũng quá hẹp và điều kiện địa chất quá phức tạp.
Đứng trước tình hình đó chủ nhiệm địa chất của dự án - kỹ sư cao cấp Bùi Khôi Hùng, một chuyên gia địa chất thủy điện đầu ngành đã yêu cầu cần sử dụng thêm phương pháp ĐBX (công nghệ BXTTC) cho công trình này để phát hiện các hang động cactơ ngầm và các đứt gẫy địa chất kiến tạo dưới lòng hồ. TS. Vũ Văn Bằng được mời để giải quyết nhiệm vụ đặt ra bằng công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX).
Kêt quả, chỉ với thời gian khảo sát rất ngắn (03 ngày) tại thực địa bằng công nghệ BXTTC, TS. Vũ Văn Bằng đã phát hiện và định vị được trong lòng hồ thủy điện Nậm Pàn 5 có 22 hang động cactơ ngầm và 03 đứt gãy địa chất kiến tạo cắt qua lòng hồ và ăn sâu vào lòng núi đá, nguy cơ dễ gây mất nước khi hồ thủy điện tích nước.
Để kiểm tra độ chuẩn xác sự tồn tại các hang động cactơ ngầm do phương pháp ĐBX phát hiện và xác định, chủ nhiệm địa chất Bùi Khôi Hùng đã chọn 03 vị trí nghi ngờ nhất để khoan kiểm tra. Kết quả, cả 03 vị trí khoan kiểm tra đều gặp hang cactơ ngầm như TS. Bằng đã xác định, kể cả độ sâu gặp hang cũng đúng như kết quả xác định bằng PPĐBX (đạt độ chính xác 100%). Kết quả này đã được Công ty CP Tư vấn Điện lực Dầu khí Việt Nam thuộc Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam - Cơ quan Tư vấn của công trình thủy điện Nậm Pàn 5 Sơn La, xác nhận là chính xác  Điều đó nói lên tính ưu việt và hiệu quả của công nghệ BXTTC.

* Nghiên cứu xác định luận cứ khoa học và đề xuất giải pháp thoát lũ nhanh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho khu vực xã Tân Hóa và 5 xã và thị trấn xung quanh thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Đây cũng là nội dung đề tài KHCN cấp Tỉnh do Sở KH&CN Quảng Bình quản lý, TS. Vũ Văn Bằng làm chủ nhiệm được thực hiện và nghiệm thu trong năm 2012.
Tính nghiêm trọng của lũ lụt và hậu quả do nó gây nên đã được ngành thủy lợi quan tâm tìm giải pháp khắc phục từ nhiều năm nay và nhiều nhà khoa học và chuyên gia của các ngành liên quan đã đến địa phương điều tra khảo sát, những vẫn chưa tìm ra giải pháp thoát lũ thích hợp do cấu trúc địa hình và điều kiện địa chất quá phức tạp và đó là nguyên nhân gây lũ nghiêm trọng và ngập úng kéo dài.
Đối với địa hình núi đá vôi bị phân cắt mạnh, thành núi dốc đứng và bị cây rừng rậm rạp che phủ, thì chỉ có công nghệ BXTTC (phương pháp ĐBX) mới có thể tìm và xác định được vị trí và hình hài của các hang động cactơ ngầm và sông ngầm.
Đứng trước tình hình đó, TS. Vũ Văn Bằng đã đề xuất giải pháp thoát lũ ngầm qua chính các hang động cactơ ngầm và sông ngầm trong lòng khối núi đá vôi bằng cách sử dụng công nghệ BXTTC để phát hiện và xác định vị trí và hình hài của chúng, để sau đó thực hiện giải pháp mở rộng các cửa hang đã bị vùi lấp và khơi thông những đoạn sông ngầm hẹp tắc, nhằm làm thông toàn bộ dòng chẩy ngầm từ đầu đến cuối giúp thoát lũ nhanh. Đó chính là cơ sở khoa học của giải pháp thoát lũ cho vùng Tân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Do đề xuất này, TS. Vũ Văn Bằng đã được chọn làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh với nội dung chủ yếu là sử dụng phương pháp ĐBX (công nghệ BXTTC) để xác định các hang động cactơ ngầm và các sông  ngầm trong lòng khối núi đá vôi dài khoảng 7km và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra. Kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học này là cơ sở để hình thành Dự án thoát lũ cho năm xã và thị trấn Quy Đạt của huyện Minh Hóa thuộc lưu vực sông Rào Nan. Dự án đã được các cấp có thẩm quyền chấp thuận phê duyệt với tổng kinh phí khoảng trên 200 tỉ đồng.
Thành công tiếp theo có giá trị khoa học cao và ý nghĩa thực tế lớn là chủ nhiệm Đề tài – TS. Vũ Văn Bằng đã đề xuất được những giải pháp thoát lũ nhanh. Giải pháp thoát lũ được đề xuất đã thể hiện được:
-    Tính khoa học và tính chính xác cao
-    Tính khả thi và tính hiệu quả lớn
Trên đây chỉ trình bầy tóm lược một số kết quả điển hình của việc ứng dụng công nghệ BXTTC để giải quyết những nhiệm vụ trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất thuộc 2 chuyên ngành ĐCTV và ĐCCT ở những nơi có điều kiện địa hình, địa chất, ĐCTV, ĐCCT phức tạp, mà các phương pháp kỹ thuật truyền thống không giải quyết được cho các ngành và các địa phương khác nhau suốt từ Bắc vào Nam, thậm chí cả ở ngoài hải đảo xa xôi. Điều đó nói lên hiệu quả và tính ưu việt vượt trội của công nghệ BXTTC trong công tác khảo sát thăm dò của ngành địa chất.

3.3. Những kết quả ứng dụng trong công tác tìm mồ mả hài cốt thất lạc
* Xử lý môi trường: phát hiện và xác định vị trí mồ mả hài cốt bị thất lạc hoặc tồn đọng dưới mặt đất phục vụ giải phóng mặt bằng công trường cho các dự án-công trình xây dựng, cũng như cho các hộ gia đình trước khi mở móng xây nhà
Việc phát hiện và định vị vị trí mồ mả hài cốt bị thất lạc hoặc tồn đọng, cũng như việc tìm kiếm hài cốt, mộ liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh bị thất lạc bằng công nghệ BXTTC được bắt đầu triển khai từ năm 2007. Công nghệ này cũng dựa trên nguyên lý “có hài cốt hoặc di vật mang theo thì có trường BXTTC và ngược lại”. Đây là dấu hiệu tin cậy nhất để phát hiện và định vị chúng. Do đó việc sử dụng công nghệ BXTTC để phát hiện và định vị mồ mả hài cốt đã đạt độ chính xác rất cao và đưa lại hiệu quả to lớn.
Bởi vậy, công việc này tuy mới được bắt dầu từ năm 2007, nhưng nay đã trở thành công việc thường xuyên đáp ứng yêu cầu trên khắp mọi miền đất nước cho nhiều mục đích dân sinh khác nhau như: tìm mộ bị thất lạc, tìm mộ để cất bốc di dời trước khi xây nhà mới hoặc để giải phóng mặt bằng các khu chung cư, các trụ sở cơ quan mới, các khu đô thị mới, các xí nghiệp, công trường và khu công nghiệp mới…Ví dụ: Phát hiện hàng trăm hài cốt thất lạc ở công trường Nhà máy Xi măng xã Văn Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trước khi giải phóng mặt bằng xây dựng.
Như vậy đối với đối tượng này bằng công nghệ BXTTC có thể xác định được:
-    Vị trí có mồ mả hài cốt (khi đã mất dấu, thất lạc),
-    Xác định được số lượng những mồ mả, hài cốt bị mất dấu trong nghĩa địa hoặc toàn bộ nghĩa địa lâu đời bị bỏ quên.
-    Độ phân hủy của hài cốt,
-    Độ nông sâu của hài cốt,
-    Hài cốt đã hoặc chưa được cải táng,
-    Hướng nằm của hài cốt (đầu và chân),
-    Thậm chí cả di vật của hài cốt còn sót lại cũng xác định được,
-    “Tia đất” có hại của môi trường đất,

* Tìm hài cốt liệt sỹ: Một số kết quả điển hình ứng dụng công nghệ BXTTC tìm và xác định nơi chôn cất và mổ mả hài cốt các liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh bị thất lạc

- Tìm và xác định được nơi chôn cất thi thể của 173 liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn đặc công hy sinh tại Cồn Tiên – Dốc Miếu, tỉnh Quảng Trị.
Trong cuộc chiến chống Mỹ đã có một Tiểu đoàn đặc công của Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh tại Cồn Tiên – Dốc Miếu, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (năm 1967) và được lính Mỹ chôn chung trong một hố. Vào năm 2005, nhân chuyến sang Việt Nam thăm lại chiến trường xưa, cựu chiến binh Mỹ - người đã trực tiếp đào ngôi mộ chôn chung này, đã thông báo và trao bản vẽ sơ đồ nơi chôn cất cho phía Việt Nam. Do thời gian quá lâu, mọi dấu vết bị xóa nhòa, đặc biệt địa hình, địa vật nơi chôn các liệt sĩ đã thay đổi hoàn toàn, nên mặc dù Tỉnh đội Quảng Trị đã tiến hành đào liên tục 36 ngày, kể cả có sự tham gia của hầu hết các nhà ngoại cảm nổi tiếng, nhưng vẫn không tìm thấy nơi chôn cất.

Được biết thông tin này, TS. Vũ Văn Bằng đã tình nguyện sử dụng công nghệ BXTTC vào tìm và xác định vị trí của ngôi mộ tập thể này. Vừa tới bìa rừng và chỉ sau ít phút, TS. Vũ Văn Bằng đã phát hiện được nơi chôn cất 173 liệt sĩ và tiến hành đo đạc chi tiết để định vị chính xác.

Tỉnh đội Quảng Trị đã tổ chức cất bốc và quy tập hài cốt các liệt sĩ về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào tháng 8 năm 2007. Cùng trong năm đó, theo yêu cầu của Tỉnh đội Quảng Trị, TS. Vũ Văn Bằng lại phát hiện và định vị tiếp hai ngôi mộ liệt sỹ tập thể nữa cũng do phía Mỹ thông báo, 1 ở Đakrông gồm 600 liệt sĩ và 1 ở Ba Lòng gồm 50 liệt sĩ.
 
- Tìm và xác định hai ngôi mộ tập thể của 75 liệt sĩ và 154 tử tù ở đảo Côn Sơn, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu bị thất lạc
Đây là một trong 2 nôi dung chính của Đề tài NCKH cấp Tỉnh do Sở Khoa học và Công Nghệ Bà Rịa – Vũng Tầu quản lý, TS. Vũ Văn Bằng là chủ nhiệm.
Khu vực có hai ngôi mộ tập thể này, 1 nằm ở cạnh đường vào sân bay Cổ Ống, 1 nằm trước Chuồng Cọp Pháp cũ, nhưng vị trí cụ thể không còn ai nhớ rõ, nên mặc dù trước đó Lãnh đạo Huyện và Ban Quản lý khu di tích Côn Đảo đã cho tìm kiếm và đào, thậm chí còn mời nhiều nhà ngoại cảm có tên tuổi tham gia, nhưng vẫn không tìm thấy.

Nhờ tính năng vượt trội của công nghệ BXTTC trong việc tìm và xác định mồ mả hài cốt, cũng như thiết bị đo đã được cải tiến và hoàn thiện thêm một bước (máy BTX-09), nên khi vừa tới hiện trường khu vực khảo sát, chỉ sau vài phút vận hành máy, TS. Vũ Văn Bằng đã xác định được chính xác vị trí của hai ngôi mộ tập thể này bị thất lạc. Theo chỉ đạo của Giám đốc Sở KH&CN BR-VT – cơ quan quản lý đề tài quyết định cho tiến hành đào kiểm tra tại chỗ. Kết quả những di cốt được tìm thấy từ các hố đào đã xác nhận rằng đó chính là hai ngôi mộ tập thể cần tìm.
Tháng 06-2011, UBND huyện Côn Đảo và Ban Quản lý khu di tích Côn Đảo đã làm lễ tiếp nhận và tiến hành công việc bảo quản, bảo vệ di tích cách mạng.
Một lần nữa công nghệ BXTTC được đánh giá rất cao trong buổi nghiệm thu đề tài vào tháng 9/2011.

-  Tìm và xác định được 4 nơi chôn cất các liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ với gần 1.000 ngôi mộ bị thất lạc ở huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
Tháng 11-2011 trên đường sang Campuchia theo lời mời của Tỉnh đội Gia Lai tham gia tìm kiếm hài cốt các liệt sỹ VN hy sinh trên đất ban, khi qua huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, đáp ứng lời mời của huyện đội Đức Cơ, TS. Vũ Văn Bằng với công nghệ BXTTC đã tìm và xác định được 4 nơi chôn cất của gần 1.000 chiến sĩ đã hy sinh. Sau một tuần đào ở khu vực nhiều mộ nhất, chỉ với 4 hàng dọc của nghĩa địa đã phát hiện và khai quật được 87 tiểu và tăng bạt bọc hài cốt liệt sĩ, (trên tiểu có ngôi sao và hai chữ viết tắt LS).
Trên đây chỉ là ba ví dụ điển hình cho việc sử dụng công nghệ BXTTC để phát hiện và tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ hy sinh bị thất lạc không chỉ ở trên đất nước Việt Nam mà còn thực hiện cả ở trên 2 đất nước bạn Lào và Campuchia. Tất cả các hoạt động tìm kiếm này được TS. Vũ Văn Bằng thực hiện đều là hoạt động từ thiện, tự nguyện, hoạt động để đền ơn đáp nghĩa, tỏ lòng tri ân đối với các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc để dân tộc Việt Nam có hạnh phúc như ngày nay. Các hoạt động này hoàn toàn không vì mục đích kinh tế.
         
* Tham gia cứu hộ cứu nan: Một số kết quả điền hình ứng dụng công nghệ BXTTC để tìm kiếm và định vị các nạn nhân bị vùi lấp trong đất đá sập đổ hoặc chìm sâu dưới nước do các tai nạn và sự cố gây nên.

- Tìm kiếm và định vị được vị trí nạn nhân (lái xe) trong vụ tai nan lật xe khách xuống sông Lam khi mưa lớn gây lũ trên địa phận tỉnh Hà Tĩnh (10-2010)
Tháng 10 năm 2010 trên đường trở về sau chuyến đi công tác ở tỉnh Quảng Bình, thì gặp vụ tai nạn xe khách bị lật xuống sông Lam do nước lũ. Đến hiện trường của vụ tai nạn, TS. Vũ Văn Bằng gặp Ban chỉ huy cứu hộ, cứu nạn trình bầy khả năng  tham gia tìm kiếm các nạn nhân bằng công nghệ BXTTC. Rất nhanh chóng với chiếc máy BTX-09 thường trực trên tay, TS. Vũ Văn Bằng đã xác định được vị trí một nạn nhân đang nằm dưới sông, cách không xa nơi xẩy ra tai nạn. Đó chính là xác người lái xe.

- Tìm kiếm và định vị chính xác vị trí 2 nạn nhân cuối cùng bị vùi lấp trong vụ sập mỏ đá Lèn Cờ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (4-2011)
Đang trên đường công tác qua tỉnh Nghệ An, thì được tin xẩy ra vụ tai nạn sập mỏ đá Lèn Cờ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và 18 nạn nhân bị thiệt mạng. Ngay trong  ngày đầu, 16 nạn nhân đã được tìm thấy, còn lại 2 nạn nhân nữa. Với hy vọng bằng công nghệ BXTTC có thể góp phần giúp địa phương nhanh chóng tìm ra vị trí 2 nạn nhân cuối cùng (17 và 18) này.
TS. Vũ Văn Bằng đã đến thẳng hiện trường nơi xảy ra tai nạn gặp Lãnh đạo huyện Yên Thành và Ban Chỉ huy cứu hộ cứu nạn đề nghị tham gia tìm kiếm. Xuất hiện đúng lúc và với chiếc máy BXT-09 trên tay, rất nhanh TS. Vũ Văn Bằng đã phát hiện và định vị được vị trí của 2 nạn nhân cuối cùng này. Công tác đào bới tìm kiếm lại tiếp tục được triển khai, riêng TS. Vũ Văn Bằng vì công việc bận, nên đã rời khỏi hiện trường vụ tai nạn, tiếp tục lên đường vào Quảng Bình.
Nhưng do khối đá đè lên xác các nạn nhân quá lớn phải khoan nổ mìn và khi mìn nổ thì mọi dấu tích của 2 nạn nhân đã được định vị trước đó bị xóa sạch. Do đó, TS. Vũ Văn Bằng đang công tác ở Đồng Hới, tỉnh  Quảng Bình lại được yêu cầu quay trở lại hiện trường sự cố để định vị lại. Cũng như lần trước, việc xác định lại vị trí 2 nạn nhân cuối cùng được thực hiện rất nhanh và sự cố đã được khắc phục.
 
- Phát hiện và định vị xác 5 nạn nhân của vụ tai nạn sập bãi thải mỏ than Phấn Mễ, tỉnh Thái Nguyên (6/2012)
Nhận được tin vụ tai nạn sập bãi thải Mỏ than Phấn Mễ, tỉnh Thái Nguyên gây sập đổ nhà và vùi lấp người dân và do biết được tính năng của công nghệ BXTTC, TS. Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư kí Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Nguyên Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên) đã cùng TS. Vũ Văn Bằng lên gặp Lãnh đạo Tỉnh và Ban chỉ huy cứu hộ cứu nạn xin tham gia được đưa khoa học vào khắc phục sự cố và góp phần sớm tìm kiếm được nạn nhân.
Kết quả là ngay từ ngày đầu tiên tham gia tìm kiếm xác các nạn nhân, bằng máy BTX-09, TS. Vũ Văn Bằng đã nhanh chóng định vị được vị trí của các nạn nhân đang nằm sâu dưới lớp đất đá dầy từ 15m đến gần 20m.
    Cùng tham gia tìm kiếm và định vị nơi xác các nạn nhân đang nằm, còn có nhiều đơn vị trong cũng như ngoài tỉnh, kể cả các chuyên gia về hầm mỏ nước ngoài đang làm việc gần đó, cùng đông đảo các nhà ngoại cảm, nhưng đều xác định không đúng hoặc không xác định được.
Sau 5 ngày đào theo phương án cuốn chiếu (phương án ban đầu do chuyên gia nước ngoài đề xuát), thấy tốc độ quá chậm, nên Ban chỉ huy cứu hộ, cứu nạn lúc này mới quyết định cho đào thẳng vào vị trí mà TS. Vũ Văn Bằng đã định vị ngay từ những ngày đầu – nơi mà TS. Vũ Văn Bằng luôn luôn khảng định chỉ có ở vị trí đó. Kết quả đúng như vậy.

Tại buổi khai quật cuối cùng, TS. Nguyễn Văn Túc – Viện trưởng Viện Công nghệ Nước và Môi trường thuộc Liên Hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã có mặt tại hiện trường – nơi xẩy ra vụ tai nạn, tiếp kiến các Lãnh đạo Ban chỉ huy cứu hộ, cứu nạn (UBND tỉnh Thái Nguyên và Tổng công ty Gang thép Thái Nguyên) và chứng kiến việc cất bốc thi thể 5 nạn nhân và buổi lễ truy điệu tập thể do UBND xã Phù Linh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tổ chức.

Một lần nữa chứng minh rằng, trong công tác cứu hộ cứu nạn ở bất kỳ môi trường nào trên cạn cũng như dưới sông…công nghệ BXTTC đều phát huy tác dụng và đạt hiệu quả rất cao.
                                         
 Tóm lại, công nghệ BXTTC ứng dụng cho việc tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn có thể:
-    Phát hiện được từ xa đến 150m
-    Định vị chính xác vị trí các nạn nhân đang nằm
-    Chiều sâu định vị được (bị vùi lấp) từ vài mét đến trăm mét
-    Không phụ thuộc vào thời gian xảy ra tai nạn, sự cố (bị vùi lấp) mới hay đã lâu, thậm chí có thể phát hiện ngay sau khi sự cố, tai nạn vừa xảy ra (nạn nhân vừa chết) ./.


Thư ký, NGUYỄN THU TRANG
Các tin khác
 
Tin mới
 
¤ BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
¤ KỶ NIỆM 10 NĂM - CÔNG TY
¤ LẠI VẤN ĐỀ HẰN LÚN ĐƯỜNG Ở BỘ GIAO THÔNG
¤  ĐƯỜNG ỐNG NƯỚC SÔNG ĐÀ VÀ SỰ CỐ NÓI GÌ...
¤ TỜ TRÌNH BỘ TRƯỞNG PHẠM THỊ HẢI CHUYỀN
¤ TỜ TRÌNH BỘ TRƯỞNG NGUYỄN QUÂN BỘ KHCN
¤ BỆNH TỪ HÓA – TRƯỜNG HỢP THỨ TƯ
¤ TỜ TRÌNH BỘ Y TẾ
 
Sản phẩm bán chạy
GIỚI THIỆU - MÁY BỨC XẠ TỪ BXT-012 THẾ HỆ 4
GỐI - ĐỆM - MÀNH MÀNH VÀ ĐIỆN THOẠI DI ĐÔNG - ĐẾ GIẦY THAN HOẠT TÍNH
GẠCH LÁT NỀN CHỐNG TIA ĐẤT MỒ MẢ HÀI CỐT BẢO VỆ SỨC KHỎE
MÁY ĐỊA BỨC XẠ THẾ HỆ MỚI - VERSION 03
MÁY ĐO TRƯỜNG ĐỊA BỨC XẠ - TIA ĐẤT
 
Liên kết Web
Khách hàng của Công ty